Quái Vật Ở Berlin - Chương 19: Giữ lại một phần của em

Thời gian trôi, Anze ra ngoài một giờ sau khi Johannes đã yên vị trong phòng để tút tát lại bản thân mình, và ông ta chỉ quay trở về khi thời điểm đêm tiếp theo buông xuống đã đến. Ông ta đem theo về vài bộ quần áo may sẵn mua được từ một người thợ may quen biết, đủ hoàn mỹ với kiểu cách và màu sắc mà ông biết Johannes sẽ không chê. Anze ngồi chờ đợi trong phòng khách khi xong việc, sưởi ấm thoải mái bên ngọn lửa, đôi mắt ông lấp lánh nhìn lên khi Johannes xuất hiện trở lại trong bộ dạng mới – tóc hớt cao, và bộ quần áo của thập kỷ trước được thay thế bằng bộ com-lê mà những đàn ông giàu có giữa thế kỷ 20 vẫn thường mặc.

“Ông cứ nhìn chằm chằm như thể chưa từng gặp tôi trước đây vậy.” Johannes bình phẩm thản nhiên, khi ánh mắt mà người kia dành cho ông quá chăm chú, có phần nào yêu mến, và trong nhiều giây liền, chẳng một lời nói khẽ nào được thốt ra. Anze lắp bắp:

“Trông em bảnh lắm.”

Đó là tất cả những gì mà ông ta có thể thốt lên được. Johannes chậc lưỡi, sự ngại ngùng hiện phớt qua gò má nhợt nhạt, “Làm sao ông biết được số đo của tôi?”

“Em cũng biết số đo của tôi mà. Xem như chúng ta hòa đi.”

“Hợp lý.”

“Em thích vẻ ngoài này chứ?”

“Thành thật mà nói, phải mất thêm ít thời gian nữa để tôi làm quen với… mấy thứ này.” Johannes thừa nhận, kéo kéo bộ áo dút với chiếc quần cạp cao [1]. Ít nhất thì ông vẫn có một chiếc măng tô to dài để khoác, ông nghĩ. “Tôi vẫn thích kiểu quần áo nhiều lớp ngày xưa hơn.”

“Em vẫn còn cáu bẳn hờn dỗi vì cái áo choàng của mình, phải không?” Anze cười rộng, làm Johannes lập tức phải bật lại ngay:

“Tôi không có dỗi!”

“Nhưng khuôn mặt em nói có.” Người kia trêu. “Tôi hiểu người đàn ông của mình quá rõ rằng ông ấy là một người cổ lổ sỹ mà.”

“Đó là một câu đùa à?”

“Một câu đùa rất hay nếu em suy nghĩ kỹ.” Anze cười khúc khích. “Hớt tóc lên cảm thấy thế nào?”

“Cảm giác như thiếu thiếu điều gì đó.” Johannes thở dài. “Tôi sẽ rất cảm kích nếu có thứ gì che đầu mình lại.”

“Tôi có vài chiếc mũ.”

“Thôi, cho tôi xin, nếu thế thì cứ để yên mái đầu tôi thế này. Mũ nón hiện đại trông còn xấu hơn cả mấy chiếc mũ chóp thời Edwardian.”

“Vậy thì tôi đoán mình sẽ được dịp ngắm nghía em cho hẳn hoi thôi.” Anze nháy mắt. “Một trải nghiệm mới mẻ và vui sướng, tôi nói cho em hay.”

“Tên nịnh bợ.” Johannes đảo mắt.

“Tôi cũng không phủ nhận điều đó. Nhưng em thế này trông thật sự rất đẹp. Mẹ đúng thật có tay nghề tạo kiểu tóc nhỉ?”

“Phải thừa nhận rằng bà ấy dọa tôi khiếp vía với màn múa kéo lúc đầu, nhưng phải, tay nghề bà ấy rất tốt.”

“Tôi mừng vì hai người kết thân được với nhau.”

“Tôi vô cùng cảm kích khi bà ấy rất biết cách bầu bạn. Một người am hiểu và rất tinh tế.”

“Và đó là những gì ta muốn nghe từ một quý ông thực thụ.”

Giọng người phụ nữ lại bất chợt vang lên, khi bà nhanh nhẹn bước đến chỗ họ và đặt hai chiếc vali lên mặt bàn. Bà gật đầu hiểu ý với Johannes, rồi quay qua con trai mình, nói, “Mọi thứ sẵn sàng rồi.”

“Còn thảo dược?” Anze kiểm tra.

“Tất nhiên ta đã gói kèm chúng vào vali.” Bà đáp. “Con biết công thức mà, phải không?”

“Mẹ có thể tin con, đây đâu phải lần đầu tiên con giúp mẹ pha thuốc.”

“Thật tốt khi có đứa con biết đỡ đần.” Bà cong môi và ngâm nga hài lòng. “Hai đứa đi được rồi. Nhưng trước tiên, ta muốn nói vài lời với Johannes.”

“Hai người có cả ngày trong khi con đến chỗ thợ may mà vẫn còn chuyện để nói sao?” Anze đùa bỡn chậc lưỡi. Người phụ nữ đánh nhẹ vào vai ông:

“Anze.”

“Sao ạ?”

“Đi đi!”

“Được rồi, con chỉ nói vậy thôi. Con sẽ đợi ngay sân trước. Tạm biệt mẹ, thưa mẹ, hẹn sớm gặp lại.”

“Và đừng có quên lời hứa sẽ chạy việc nhà cho ta đấy!”

Và cứ thế người đàn ông kia đã biến mất sau cánh cửa. Người phụ nữ thở dài, rồi quay mặt hướng về người còn lại. Chưa bao giờ ông thấy bà sợ sệt hay sự cương nghị suy giảm, và khi bà nói, giọng bà dù nhẹ nhàng nhưng vẫn vô cùng tự tin và chắc nịch, “Johannes… Cậu có khó chịu không khi ta gọi cậu như vậy?”

“Không, không có.” Johannes đáp, và việc này khuyến khích người kia nở một nụ cười.

“Johannes, ta biết chúng ta chỉ mới quen biết nhau một khoảng thời gian ngắn thôi.” Bà bắt đầu. “Nhưng chuyện cậu đang trải qua, ta có thể thấu hiểu. Cậu thấy đấy, Anze, và em gái của nó nữa, hai đứa nó là gia đình duy nhất của ta, và ta từng nghĩ mình sẽ không thể sống mà thiếu chúng được. Ấy vậy mà chúng lúc nào cũng chạy đôn chạy đáo vì công việc không dứt. Thoạt đầu ta đã nghĩ mình sẽ không chịu nổi, khi mà để chúng ngoài thế giới kia một mình, nhưng cuối cùng thì… ta cũng phải tập làm quen với việc đó thôi. Ta không nói cậu phải dẹp bỏ mọi suy nghĩ, hay vượt qua cảm xúc tiêu cực của mình ngay lập tức, vì ta cũng là một người làm mẹ, và ta hiểu ở tình thế của cậu khó khăn nhường nào. Ta chỉ muốn nói rằng bọn trẻ, chẳng sớm thì muộn, cũng phải lớn lên, và cậu nên tin tưởng chúng dù chỉ một chút. Việc đó sẽ không chỉ giúp cho chúng, mà còn cho cả cậu nữa, Johannes.”

“Nhưng vì sao bà lại nói những điều này với tôi?”

“Bởi vì bây giờ ta đã biết cậu, ta xem cậu là người một nhà, và ta không muốn cậu làm khó bản thân quá sức vì vấn đề trước mắt. Một tâm trạng ủ dột chẳng thể giải quyết tốt hơn một tâm trí minh mẫn, không phải sao?”

“Tôi hiểu rồi…” Johannes gượng cười qua tiếng thở dài. “Cảm ơn rất nhiều vì lời khuyên. Tôi sẽ suy nghĩ về nó.”

“Cho bản thân chút thời gian, đừng ép mình quá. Cậu đã học được rất nhiều từ việc kiên nhẫn rồi.”

“Tôi sẽ nhớ.” Ông gật đầu.

“Và ta cũng phải cảm ơn cậu, vì đã trở thành một phần trong cuộc đời con trai ta. Cậu không biết nó dấm dẳng thế nào khi trước kia không ai chịu nổi nó đâu.”

“Thật sao? Ông ấy nói nhiều, nhưng chưa bao giờ kể cho tôi nghe về chuyện đó cả.”

“Giờ thì cậu biết rồi, cứ tin ta.” Người phụ nữ cười rộng. “Giờ thì mau đi đi, bây giờ nó hẳn đã đang sốt ruột lắm rồi. Nhớ chăm sóc bản thân và lẫn nhau. Bóng đêm và mặt trăng sẽ ban phước cho cậu trong chuyến hành trình này và trở về sau.”

Johannes gửi vị thầy thuốc lời cảm ơn khiêm tốn của mình, rồi vội vã hướng ra sân trước. Anze nhanh chóng nghe được tiếng bước chân, ông đưa Johannes cầm lấy một trong hai chiếc vali, hỏi:

“Hai người tâm sự về chuyện gì vậy?”

“Chẳng có gì quan trọng.” Người kia nhún vai.

“Thông tin tuyệt mật, hửm?” Anze cười nói nghịch ngợm. “Được thôi, em cứ việc giữ lấy cái bí mật nhỏ của mình.” Ông ta nói, rồi nắm lấy một tay của đối phương.

“Ông làm vậy là có ý gì đây?”

“Hàn gắn tình cảm.” Anze nháy mắt.

“Thấy ghê quá.” Johannes hít mũi, nhưng vẫn không buông tay. Anze nói:

“Giữ chặt tay tôi nhé, chúng ta đi bây giờ đây.”

“Ngay tại đây, ngay lúc này?”

“Phải!”

“Nhưng làm sao–?

Trong chớp mắt, hai người đàn ông biến mất vào trong thinh không, chẳng để lại dấu vết gì ngoài vết chân mờ dừng lại bất chợt trên nền tuyết trắng. Họ sớm dịch chuyển đến nơi, ấy vậy không ai bị đánh động, chưa phải lúc, bởi họ đáp xuống theo một cách vô cùng tự nhiên, như mở một cánh cửa và cứ thế bước vào căn phòng mà họ cần, và chỉ khi cột khói đen cuối cùng biến mất, Johannes mới dần nhận thức được mọi sự.

“Chúng ta đến nơi rồi!”

Giọng Anze vang lên rõ ràng và vui vẻ, tận hưởng phút giây ngắn ngủi khi Johannes mất trớn rồi nhoài người về phía ông, hành lý của cả hai rơi bộp xuống đất. Johannes tỏ vẻ bình tĩnh, nhưng ánh mắt ông lộ rõ sự thật rằng ông vẫn còn chưa hoàn hồn. Ông thở dốc:

“Ông vừa mới… dịch chuyển không gian à?”

“Ngạc nhiên chứ?” Anze đá mi mắt tự hào, nước da trắng bệch lạ thường đang chầm chậm trở về cái màu xám xịt xanh xao vốn có của nó. Ông ta cười rộng thỏa mãn khi Johannes giật mình nhận ra bản thân đang víu vào người ông. “Em cảm thấy thế nào?”

“Giờ thì tôi đã hiểu vì sao ông hầu như chẳng bao giờ di chuyển kiểu này.” Johannes vừa thăng bằng lại bản thân vừa nhăn mặt, xoa xoa hai bên trán. “Đau đầu. Có chút nhờn nhợn.”

“Trời ạ, em buồn nôn sao?”

“Không, tôi không sao. Ổn. Rất ổn. Việc dịch chuyển không gian này chỉ là tiện lợi một cách khủng khiếp thôi.”

“Ừm, quanh đi quẩn lại, chẳng có thứ gì là cho không cả.” Anze chậc lưỡi, xoay người từ bên này qua bên kia để kéo giãn cơ. “Giờ thì chúng ta đến nơi rồi, để tôi đưa người bệnh của tôi về giường.”

“Tôi không có bệnh.” Johannes phản đối.

“Tôi biết thế nào em cũng nói vậy.” Anze trêu đùa, thong thả bước đi trong bóng tối ngập tràn của nơi họ đến để bật điện. Ánh đèn đường bên ngoài đang vẽ nên từng mảng sáng tối qua khung cửa sổ. “Nhưng em sẽ muốn nghỉ ngơi sau khi dịch chuyển giống như tôi đấy.” Ông ta tiếp. “Tin tôi đi. Tôi không đề xuất em làm việc gì cần dùng sức trong ít nhất vài giờ đồng hồ tới đâu, trừ phi em muốn ngã dập mặt như mấy tên say xỉn nào đó.”

Ánh đèn được bật lên ngay khi lời Anze vừa dứt, thoạt tiên là âm thanh ù ù của dòng điện, và rồi hiện ra trước mắt hai người đàn ông là phòng khách của một ngôi nhà giàu có nơi phố thị, ấy nhưng lại được trang trí với phong cách lẫn nội thất của ít nhất hai thế kỷ trước kia. Cả hai người chớp chớp mắt thích nghi với ánh điện sáng, ánh nhìn của Johannes ánh lên khi ông quan sát căn phòng. Bởi một lý do nào đó mà ông chưa thể hiểu ra, đuôi mắt của ông khẽ giật.

“Chào mừng đến căn cứ tại Berlin của chúng ta!” Anze hô vang, dang rộng hai tay như một ông chủ đang tự hào phô diễn sạp hàng nổi tiếng của mình. “Dù rằng tôi đoán mình đã đến sớm hơn lũ trẻ.” Ông ta thêm. “Nói cho tôi biết đi, và hãy thành thật, Johannes thân mến, em thấy nơi này thế nào?”

“Cảm giác rất… ổn.” Johannes thành thật với giọng trầm khàn, đi lại quanh phòng và miết ngón tay lên từng món đồ vật. “Kỳ lạ.” Ông dừng trước lò sửa nguội lạnh, bất chợt chìm sâu vào suy nghĩ trong vài giây, trước khi với lấy vài đoạn gỗ gần kề và ném chúng vào lòng chiếc lò đá. Ông nói nhỏ khi một ngọn lửa đã bùng cháy lên và cái lạnh mùa đông dần tan biến, “Cảm giác như đang ở nhà…”

“Đây có thể là nhà của chúng ta, nếu em muốn.” Người kia đáp. “Tôi đã lo liệu giấy tờ nhà xong từ lâu rồi, cho nên, chúng ta có thể đến đây chơi bất cứ khi nào chúng ta muốn. Nghỉ hè ở đây, tận hưởng sự náo nhiệt của thị thành. Sẽ vui lắm.”

“Ông nói như thể mình đang mơ vậy.” Johannes ngoảnh mặt lại cười. Việc đó khiến Anze đột nhiên ấp úng:

“Ừm thì, tôi thú nhận rằng mình vẫn hay mơ mộng về nhiều viễn cảnh với em.”

“Như là?” Johannes cuối cùng cũng quay lại. “Viễn cảnh hư hỏng sao?” Ông ta trêu với một cái cười xếch nửa miệng. Anze lập tức cảm thấy mặt mình nóng bừng.

“Ý-Ý tôi không phải thế!” Ông ta giãy nảy trước cái nhìn bảnh chọe của người kia. “Chỉ là tôi nghĩ sẽ rất tuyệt nếu em chuyển đến đây cùng tôi. Ít nhất thì cũng cùng nhau sống một cuộc đời bình thường nhàn hạ trong một thời gian ngắn.”

“Và ông định nghĩa cuộc sống bình thường nhàn hạ đó như thế nào?”

“À, ừm… Tôi không biết.” Anze gãi đến rối tóc. “Không chắc nữa, cũng còn phải tùy vào việc em định nghĩa nó ra sao. Có thể là thức dậy, đi dạo, tôi nhận nuôi một con chó và em nhận nuôi một con mèo hay một giống chim vẹt nào đấy, chúng ta cùng chăm chúng như con, cùng làm gì đó vui vui, đi xem kịch, và trước khi mặt trời lên có thể em sẽ lại đọc sách trong khi tôi pha trà hoặc làm ít đồ ăn nhẹ. Tất nhiên tôi biết em không thể ăn khi bản thân là ma cà rồng của giống loài thuần chủng nhất, ý tôi chỉ là, đấy là phép ẩn dụ cho những việc ta có thể làm khi rảnh rỗi. Chà… Tôi hy vọng mình dùng từ ‘ẩn dụ’ đó đúng. Hay chỉ nên gọi đấy là ví dụ thôi nhỉ?”

Johannes ít ra cũng đã chịu cười thoải mái. “Vậy là không có viễn cảnh hư hỏng nào hết?”

“Tôi chưa bao giờ nói thế.” Anze cắn cắn môi. Johannes phải nín để khỏi bật cười thành tiếng.

“Thực lòng tôi cũng muốn dành thời gian với ông ở đây. Ngôi nhà này dù gì cũng cho tôi một cảm giác ấm cúng.”

“Em không nhận ra nó sao?”

“Nhận ra cái gì?”

“Ngôi nhà này.”

“Tôi không nhớ đã từng đến đây bao giờ.”

Dáng dấp tự nhiên của Johannes lập tức lung lay, và ông nhìn quét qua phòng khách một lần nữa, cố gắng nhận ra xem vì sao người kia lại nói như vậy. Ánh nhìn của ông dừng ngay chiếc hộp nhạc nằm trên đầu tủ, thứ đồ vật cũ kỹ gỉ sét trơ trọi giữa nội thất kiểu cổ nhưng vẫn còn mới toanh. Chiếc hộp đã bị hỏng từ trước khi Johannes cầm nó lên tay, và khi ông vặn dây cót, thứ âm thanh nó phát ra thật méo mó và chói tai khủng khiếp.

Tuy chiếc hộp nhạc đã bị gỉ sét bám bẩn nhám xì, nhưng bên hông nó là một dòng chữ khắc sâu vẫn còn có thể đọc được.

Tặng Katalin.

Johannes ước gì nó viết khác đi, chưa bao giờ trong cuộc đời bất tử này mà ông nhận rõ cái ước muốn xóa bỏ thứ gì đến vậy, bởi dòng chữ kia cùng quá khứ mà nó cất giữ, mặc cho ông có chật vật thế nào, vẫn để lại trong tâm trí ông thứ ký ức kinh khủng của sự khốn khổ. Nhưng dù ông có cố gắng thuyết phục bản thân ra sao, những con chữ kia vẫn nằm đó, ông hít một luồng hơi lạnh đầy phổi, và giọng ông, khi ông phát ra, lại khàn và vỡ vụn:

“Tôi nhận ra chiếc hộp nhạc này. Nó từng là của tôi, không thể nào khác được. Vì sao nó lại ở đây?”

“Bởi vì em đang đứng trong ngôi nhà cũ của mình.”

Câu trả lời của Anze khiến người kia không khỏi ù tai, và Johannes đứng chết lặng trong suốt một phút dài khổ sở. “Nơi tôi từng ở khi tôi vẫn còn sống.” Ông khó khăn bật ra. “Đã lâu lắm rồi. Làm thế nào…”

“Tôi mua nó sau cái ngày mà em bỏ đi.” Anze tiết lộ.

“Thật à?” Đồng tử mắt Johannes co rút lại khi ông vẫn còn chưa tin được tai mình. Người kia kể tiếp:

“Thật ra là vài ngày sau khi em bỏ đi.” Ông ta lo lắng giấu tay vào túi quần.

“Tôi không hiểu…”

“Âu cũng là một câu chuyện dài.”

“Vậy làm ơn kể tôi nghe đi.”

“Lần chạm mặt đầu tiên của chúng ta, năm 1621, em còn nhớ chứ?”

Johannes đưa ánh nhìn khích lệ, “Tiếp đi.”

“Vào đêm sau đó, tôi… tôi đã quay lại. Tôi đã hy vọng gặp lại được em. Nhưng không có ai mở cửa, cũng chẳng có cái bóng nào lảng vảng bên cửa sổ. Không một ai trong khu biết chuyện gì đã xảy ra với em. Sau một ngày và một đêm chờ đợi, cuối cùng thì sự tò mò đánh bại tôi.”

“Và rồi ông đột nhập vào nhà tôi?”

“Phải.” Ông ta gật đầu. “Chỉ để thấy một căn nhà hoang bụi bặm. Tôi lên tầng, bước vào vài phòng ngủ, và đó là lúc tôi nhận ra em đã chuyển nhà.”

“Ông mua lại nơi này để làm gì?”

“Tôi… tôi muốn để dành nó cho em, hy vọng rằng một ngày em sẽ quay về.” Anze thú nhận cùng tiếng thở dài. “Nhưng em vẫn biệt tích.”

“Vậy vì sao ông vẫn giữ lại nó?”

“Tôi cảm thấy tội lỗi.” Ông ta thành thật. “Tôi xin lỗi, bởi trong khoảng thời gian ở đây tôi đã xem qua đồ đạc của em. Hay đúng hơn là những thứ mà em quyết định bỏ lại. Tôi tìm được vài bức ảnh, và một quyển nhật ký của Herbert. Đó là cách tôi biết được cơ sự mọi chuyện, và là lý do tôi biết đó là em khi tôi chuyển đến Transylvania. Không nhiều, nhưng đủ để tôi hiểu mình chính là lý do em phải rời đi, và việc đó dằn vặt lương tâm tôi vô cùng nếu tôi không làm gì để chuộc lại lỗi lầm tai

Thư Mục Truyện

TRUYỆN MỚI

TRUYỆN ĐỀ CỬ