Miếng Da Lừa - Chương 1 – Tấm bùa

KÍNH TẶNG ÔNG SAVARY[1]

Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Sterne, Tristram Shandy,

Khoảng cuối tháng Mười – năm ngoái[3], một chàng thanh niên bước tới khu Hoàng cung[4] vào lúc các sòng bạc mở cửa, theo đúng như pháp luật vẫn che chở một dục vọng vốn dĩ đánh thuế được. Chẳng ngập ngừng cho lắm, anh ta leo cầu thang lên cái sòng tên gọi là sòng số 36.

– Bỏ mũ ra, thưa ngài! – Một lão già loắt choắt, mặt tái nhợt gọi bảo chàng trai, giọng cộc lốc và gắt gỏng, lão ta đang ngồi xổm trong bóng tối, sau một hàng bao lơn, đột nhiên đứng lên, thò ra bộ mặt rập khuôn theo một kiểu bỉ ổi.

Khi anh bước vào một sòng bạc, luật lệ đầu tiên là lột của anh chiếc mũ. Phải chăng đó là một ngụ ý trong giáo lý của Thượng đế? Hay phải chăng đó là một cách ký kết bản giao kèo hắc ám bắt anh phải nộp một vật nào đấy làm bằng? Hoặc giả đó là buộc anh phải giữ một thái độ kính trọng trước những kẻ sắp sửa lấy được tiền của anh? Hoặc giả đó là bọn cảnh sát ẩn nấp ở khắp các cống rãnh xã hội cần biết tên kẻ bán mũ cho anh, hay chính tên anh nếu anh đã ghi nó vào mũ? Sau nữa, hay là để đo cái sọ anh và làm một bản thống kê bổ ích về dung lượng bộ não của quan viên làng đen đỏ? Về vấn đề trên đây thì nhà đương cục hoàn toàn im lặng. Nhưng, anh nên biết rằng, anh vừa bước tới gần tấm thảm xanh là chiếc mũ của anh đã không thuộc về anh nữa: anh thuộc về đám bạc, bản thân anh, tài sản của anh, cái mũ của anh, chiếc can của anh và chiếc áo tơi của anh. Khi anh ra về, thần Đổ bác, bằng hành động châm biếm tàn nhẫn, sẽ chứng minh với anh rằng trả hành lý cho anh là còn để lại cho anh chút gì rồi đó. Tuy nhiên, nếu anh có một chiếc mũ mới, anh sẽ phải thiệt thòi nhận lấy bài học là khi nào đi đánh bạc thì phải khoác bộ đồ con bạc. Sự ngạc nhiên của chàng lạ mặt khi nhận được phiếu ghi số gửi mũ, may mắn vành mũ của anh ta đã hơi bợt lông, đủ tỏ là tâm hồn anh ta còn ngây thơ. Lão già bé nhỏ, chắc rằng ngay từ lúc còn ít tuổi đã ngụp mình trong những cuộc vui sôi nổi của cuộc đời con bạc, đưa con mắt lờ đờ, nguội lạnh nhìn anh ta, trong con mắt đó một triết gia có lẽ sẽ nhìn thấy những cảnh cơ cực ở nhà thương, những nỗi bơ vơ của kẻ bị bại sản, những biên bản của bao nhiêu vụ tự tử bằng hơi ngạt, những bản án khổ sai, chung thân, những cảnh đi này biệt xứ ở Guazacoalco[5]. Con người đó, với bộ mặt dài trắng bệch chỉ còn được nuôi sống bằng những bữa cháo sền sệt của Darcet[6], là hình ảnh nhợt nhạt của dục vọng trình bày dưới trạng thái đơn thuần nhất của nó. Trong những nếp nhăn của hắn có vết tích của những khổ nhục xưa kia, chắc rằng hắn đã ném vào cuộc đỏ đen đồng lương còm cõi của hắn ngay bữa lĩnh tiền; giống như con ngựa tồi dạn dày với roi vọt, chẳng có gì làm cho hắn giật mình được; hắn nhất thiết vô tình trước những tiếng rên rỉ nghẹn ngào của những con bạc bị cháy túi bước ra, trước những lời chửi rủa âm thầm, những con mắt ngây dại của họ. Hắn là hiện thân của thần Đổ bác. Nếu chàng trai kia đã ngắm nhìn lão canh cửa[7] thiểu não đó thì chắc hẳn anh ta sẽ tự nhủ: “Trong gan ruột lão này chỉ còn có một cỗ bài.”. Nhưng chàng lạ mặt chẳng lắng nghe cái lời khuyên can bằng xương thịt đó mà ý hẳn Thượng đế đã đặt tại đó, như Người đã bày ra cảnh ghê tởm trước cửa mọi chốn xấu xa; anh ta quả quyết bước vào gian phòng, nơi đây tiếng vàng làm cho mê lóa những giác quan đầy háo hức. Chắc hẳn chàng trai kia bị xô đẩy tới đó bởi cái hợp lý nhất trong những lời hùng biện của J.J. Rousseau[8], mà nội dung thê thảm hình như là thế này: Đúng, tôi quan niệm được một người đi đánh bạc; nhưng là khi giữa hắn và cái chết, hắn chỉ còn nhìn thấy đồng écu[9] cuối cùng của hắn.

Vào buổi tối, các sòng bạc chỉ có một chất thơ tầm thường, nhưng hiệu quả của nó chắc chắn như hiệu quả của một tấn kịch có đổ máu. Các phòng đầy khách xem và con bạc, có những ông già nghèo la cà ở đó để sưởi ấm, có những bộ mặt nhớn nhác, có những cuộc hành lạc bắt đầu trong cốc rượu và sẵn sàng kết thúc dưới sông Seine; nhiệt tình lai láng, nhưng khách làng chơi nhiều quá khiến anh chẳng trực diện ngắm được con quỷ đỏ đen. Buổi dạ hội quả là một vở hòa tấu trong đó cả đoàn la thét, ở đó mỗi nhạc cụ của giàn nhạc ngân giọng của nó. Anh sẽ thấy ở đấy nhiều kẻ có danh giá tới để tiêu khiển và trả tiền như họ trả tiền để xem hát, chè chén, hay như khi họ tới một gian gác xép mua rẻ những mối hận đau đớn trong vài ba tháng. Nhưng anh có hiểu chăng tất cả cái gì là điên cuồng và là hăng hái trong tâm hồn một người sốt ruột đợi sòng bạc mở cửa? Giữa con bạc buổi sáng và con bạc buổi tối có sự khác nhau như giữa anh chồng hờ hững và gã tình nhân ngây ngất chờ người yêu dưới cửa sổ. Chỉ buổi sáng mới xuất hiện cái lòng say mê hồi hộp và cái túng quẫn ở trạng thái kinh khủng bóc trần của nó. Lúc bấy giờ anh có thể ngắm nhìn một con bạc chính cống, một con bạc đã từng bỏ ăn, bỏ ngủ, chẳng sống, chẳng suy nghĩ, vì bị ngọn roi đen đỏ nó quất điếng người, vì bị cơn ngứa ngáy của một nước bạc[10] giày vò. Vào cái giờ khốn kiếp đó, anh sẽ bắt gặp những con mắt mà vẻ điềm nhiên trông phát sợ, những bộ mặt làm anh mê hoặc, những cái nhìn muốn lật quân bài lên và nghiến ngấu nó. Cho nên các sòng bạc chỉ tuyệt diệu vào giờ mở cửa. Ví bằng, Tây Ban Nha có đấu bò mộng, La Mã đã có những đấu sĩ, thì Paris kiêu hãnh vì khu Hoàng cung của nó, với những bánh xe quay kêu rít đem lại cái thú nhìn thấy máu chảy như suối mà người đứng xem chẳng lo trượt chân. Anh hãy thử liếc mắt thoáng nhìn vào cái vũ đài đó anh hãy vào xem?…

Thật là trần trụi. Cái bức tường phủ một thứ giấy bóng nhờn cao ngang đầu người, không có lấy một tranh ảnh gì có thể làm dịu được tâm hồn; không có tới cả một chiếc đinh để giúp người ta tự tử. Sàn nhà thì mòn, bẩn thỉu. Giữa buồng kê một chiếc bàn dài hình chữ nhật. Những chiếc ghế độn rơm xuềnh xoàng kê sát xung quanh tấm thảm nhẵn mòn vì tiền bạc, nói lên cái điều kỳ quặc là những con người tới đó để chết vì tiền tài và xa hoa lại không thiết tha gì với xa hoa. Mối mâu thuẫn trong con người đó bộc lộ ra ở khắp nơi nào mà tâm hồn người ta phản ứng mãnh liệt với bản thân. Kẻ si tình muốn đặt tình nương của mình trong tơ lụa, khoác lên mình nàng một tấm vái mịn màng của phương Đông, thế mà thường khi lại ôm ấp nàng trên tấm phản tồi tàn. Gã tham danh ước mơ leo tới chỗ tột cùng của quyền cao chức trọng, thế mà lại xẹp mình trong đống bùn nô lệ. Tay lái buôn sống vất vưởng trong xó cửa hàng ẩm thấp nhớp nhơ, thế mà lại rắp mong xây dựng nhà lầu cao rộng để truyền lại cho con trai, nó chưa kịp thừa hưởng thì đã bị tống đi vì một cuộc phát mại giữa anh em. Nói cho cùng, còn có nơi nào đen tối hơn chốn hồng lâu? Vấn đề thật là kỳ dị! Con người luôn luôn mâu thuẫn với mình, lấy những đau khổ trước mắt để đánh lừa những hy vọng mai sau, và xoa dịu những đau khổ hiện tại bằng một tương lai không thuộc quyền mình, mọi hành động của họ đều mang dấu ấn của tính không nhất trí và nhu nhược. Dưới trần gian này không gì trọn vẹn hơn là sự khổ hạnh.

Lúc chàng trai bước vào sòng thì đã có một số khách chơi ở đó rồi. Ba ông già đầu hói uể oải ngồi quanh tấm thảm xanh, mặt họ như đúc bằng thạch cao, thản nhiên như mặt các nhà ngoại giao, để lộ ra những tâm hồn chán chường, những quả tim đã từ lâu không còn thổn thức, ngay cả khi đem tố tài sản riêng của một phụ nữ. Một thanh niên người Ý, tóc đen, sắc mặt xanh xao, bình thản ngồi tựa khuỷu tay vào đầu bàn, và dường như đang nghe tiếng của linh tính thầm bảo bất cứ một tay chơi nào: “Trúng đấy! – Hỏng rồi!” Cái đầu gã miền Nam đó bốc ra vàng và lửa. Bảy tám người chầu rìa, đứng thành một nhóm, chờ xem những cảnh rủi may, những bộ mặt khách chơi, tiền bạc qua lại và những chiếc cào đưa đẩy. Bọn vô công rồi nghề đứng đó, im lặng, không nhúc nhích, chăm chú như quần chúng ở pháp trường Grève[11] khi gã đao phủ chặt đầu người. Một người cao lớn khô khan, mặc chiếc áo sờn rách, tay này cầm quyển sổ, tay kia chiếc kim găm để ghi những tiếng bạc đỏ đen. Đó là một trong những Tantale[12] thời nay sống ngoài lề mọi lạc thú của thời đại, một tên hà tiện kiết xác đánh một nước bạc tưởng tượng; một hạng người điên biết điều ôm ấp một mối ảo tưởng để xoa dịu những nỗi cực khổ của mình, rút cục là để đối phó với thói hư và tệ nạn như những thày tu trẻ tuổi ban rượu và bánh thánh trong buổi lễ sớm. Trước mặt người cầm cái, một hai tay lõi nghề cờ bạc, sành sỏi nước bài, và giống như những người tù khổ sai kỳ cựu không còn sợ khổ hình, tới đó đánh vài tiếng bạc ăn chắc và cuốn gói tức thì với số tiền được để sinh sống. Hai tay hầu phòng già khoanh tay lượn lờ đi lại thỉnh thoảng lại nhìn qua cửa sổ xuống vườn, như để giơ bộ mặt bèn bẹt ra với khách qua đường, thay thế cho biển hàng. Tay cầm cái và tay hồ lỳ vừa quắc con mắt trắng dã giết người nhìn mấy người đặt nước, và the thé kêu lên: “Đặt tiền đi!” thì vừa lúc chàng trai mở cửa bước vào.

Bắt đầu không khí yên lặng như lắng thêm xuống, mọi người quay đầu tò mò nhìn kẻ mới tới. Điều lạ lùng! Những ông già ngán đời, những nhân viên trơ như đá, những khách chầu rìa, và ngay cả anh chàng máu mê người Ý, hết thảy trông thấy người lạ mặt đều cảm thấy cái gì như nỗi kinh hoàng khó nói. Phải chăng là phải đau khổ đến thế nào mới làm mủi lòng người ta được, phải yếu đuối đến thế nào mới gây được cảm tình hay phải có vẻ thảm hại đến thế nào mới làm rợn được những tâm hồn ở trong gian phòng đó, nơi mà dù đau đớn vẫn phải câm lặng, dù cơ cực vẫn phải vui vẻ, dù tuyệt vọng vẫn phải đàng hoàng. Vậy thì, đã có tất cả những thứ đó trong cái cảm giác mới làm rung động những quả tim nguội lạnh kia khi chàng trai bước vào. Nhưng phải đâu những tay đao phủ lại không đôi lần rỏ nước mắt khóc những trinh nữ khi cái đầu tóc hung vàng rơi xuống theo lệnh của Cách mạng? Thoạt nhìn thấy khách chơi đã nhận ra trên mặt chàng trai mới nhập môn điều bí mật khủng khiếp nào đó; nét mặt trẻ trung của anh đượm một cái duyên u ám, con mắt nhìn biểu lộ những cố gắng vô hiệu quả, hàng nghìn mối hy vọng không thành! Cái bình thản rầu rĩ của kẻ muốn tự vẫn nhuốm lên trán anh một màu tái đục mờ và ốm yếu, một nụ cười cay đắng vẽ lên hai bên mép những nếp nhăn nhẹ nhàng, và mặt anh biểu lộ một niềm nhẫn nhục nhìn mà ái ngại. Chút thiên tài thầm kín ánh lên trong đáy cặp mắt anh bị mờ đi có lẽ do mệt mỏi vì hành lạc. Phải chăng trác táng đã ghi dấu nhơ nhớp trên bộ mặt tao nhã đó, xưa kia trong trắng và nồng nhiệt, giờ đây tàn tạ? Các thầy thuốc chắc có lẽ sẽ quy cho bệnh đau tim hay đau ngực đã làm đôi mắt anh có quầng vàng, và má anh ửng đỏ, còn như khách văn chương thì muốn xem như đó là vết tích tàn phá của khoa học, dấu hiệu của những đêm cần cù bên ngọn đèn khuya. Nhưng một dục vọng giết người mạnh hơn là bệnh hoạn, một căn bệnh tai hại hơn là siêng học và thiên tài, đã làm tàn tạ chiếc đầu xanh kia, đã làm chùng lại những gân cốt cứng cáp kia, đã thắt nghẹt trái tim kia mà những cuộc hành lạc, học tập và bệnh hoạn chỉ vừa mới sơ qua chạm tới.

Cũng như một tên tội phạm trứ danh khi bước vào đề lao thì được các phạm nhân kính cẩn tiếp đón, ở đây tất cả những quỷ sứ đội lốt người kia, lão luyện về những khổ hình, chào đón cái niềm đau khổ khôn xiết, cái vết thương sâu mà họ dò xem bằng con mắt, và nhận ra ở chàng trai một ông hoàng của họ qua vẻ oai nghiêm của niềm chua chát âm thầm, qua vẻ xác xơ thanh lịch của bộ áo quần. Chàng trai mặc chiếc áo chẽn quả thật là thanh nhã, nhưng chiếc cà-vạt được nối liền với áo gilet một cách quá ư khéo léo đến mức người ta đoán chừng chàng thiếu áo lót mình. Đôi bàn tay anh ta, xinh như tay đàn bà, dường như chẳng sạch sẽ gì; quả thật từ hai ngày nay anh chẳng còn đeo găng! Nếu tay cầm cái và cả mấy gã phục vụ cũng phải rợn mình, thì là vì vết tích của những niềm hoan hỉ tuổi ngây thơ còn đọng khá nhiều trong tấm hình hài mảnh dẻ và thanh tú, trong mớ tóc hung vàng thưa và uốn quăn một cách tự nhiên. Trông mặt mới chừng hăm lăm, thói hư lộ ra chỉ như một sự ngẫu nhiên. Tuổi xuân tươi xanh ở đó đang còn vật lộn với những phá phách của thời dâm ô bất lực. Bóng tối và ánh sáng, hư không và tồn tại ở đó đang còn xung đột để nẩy sinh ra cái duyên dáng lẫn cái kinh hồn. Chàng trai xuất hiện ở đó như một thiên thần thiếu hào quang, đi lạc lối. Vì vậy tất cả các bậc tôn sư sành sỏi về thói hư và tật xấu kia, giống như một mụ già móm mém, mủi lòng vì thấy cảnh một cô gái mỹ miều hiến thân vào nơi trụy lạc, đều muốn thét bảo gã trai tân: “Ra đi!” Anh ta bước thẳng tới chiếc bàn, đứng đó, không tính toán quăng xuống tấm thảm một đồng tiền vàng cầm trong tay, đồng tiền lăn vào số Đen, và, như những con người hùng, ghét cay đắng những chuyện mè nheo không dứt khoát, anh ta quắc mắt nhìn gã cầm cái một cách xấc xược mà bình thản. Tiếng bạc có ý nghĩa trọng đại đến nỗi mấy ông già chẳng đặt tiền nữa; nhưng anh chàng người Ý do thói máu mê chợt nảy ra một ý kiến tưởng như vận may đã tới, liền vơ hết đồng tiền của mình đặt sang phía bên kia ngược với nước bài của chàng lạ mặt. Tay hồ lỳ quên cả việc xướng lên mấy lời gào cứ nhắc đi nhắc lại mãi, nó đã biến thành những tiếng khàn khàn khó nghe: – “Đặt tiền – Cân! – Mở này!”. Tay cầm cái xòe bài ra, và, xưa nay vốn dửng dưng với chuyện ăn thua của khách đỏ đen, ấy thế mà lần này dường như hắn lại cầu may cho chàng mới đến. Mỗi người đến xem những mong được mục kích một tấn kịch và màn chót của một cuộc đời cao quý qua số phận đồng tiền vàng kia; mắt họ sáng quắc lên dán vào những quân bài định mệnh; tuy nhiên mặc dầu họ chăm chú hết nhìn chàng trai lại nhìn xuống những quân bài, họ cũng chẳng bắt gặp một triệu chứng xúc động nào trên bộ mặt lạnh lùng và nhẫn nhục của chàng.

– Đỏ chẵn được, – gã cầm cái chính thức hô lên.

Một tiếng rên khản đặc thoát ra từ bộ ngực gã người Ý khi hắn thấy rơi từng tờ giấy bạc gấp lại mà tay hồ lỳ ném cho hắn… Còn chàng trai kia thì chỉ nhận ra mình thua khi chiếc cào vươn tới để vơ về đồng Napoléon[13] cuối cùng của mình. Lưỡi cào bằng ngà va vào đồng tiền đánh cạch một cái, còn đồng tiền thì, nhanh như tên, đến nhập cục với đồng tiền bày ra trước két bạc. Chàng lạ mặt khẽ nhắm mắt lại, môi trắng bệch; nhưng thoắt cái, anh lại mở mắt, miệng lại đỏ lên như san hô, anh ta làm ra điệu một người Anh chẳng lạ gì cuộc đời, và tan biến mất chẳng van xin ai một sự an ủi bằng những con mắt đau xót mà những con bạc tuyệt vọng thường đưa về phía hàng người xem. Biết bao nhiêu biến cố dồn dập trong khoảnh khắc và bao nhiêu chuyện qua một tiếng bài!

– Đây hẳn là viên đạn cuối cùng của anh chàng, – gã hồ lỳ nói sau một lúc im lặng và tay hắn cầm đồng tiền giữa ngón cái và ngón trỏ giơ cho mọi người xem.

– Thằng cha đó cuồng, hắn sẽ nhảy xuống sông cho mà xem, – một khách quen vừa đáp vừa nhìn quanh lượt khách chơi, những người đã từng quen biết nhau.

– Chà!- Tay hầu phòng vừa thốt lên vừa làm một mồi thuốc.

– Giá ta theo ông kia! – Một ông già trỏ vào anh chàng người Ý mà nói với mấy tay đồng bọn.

Mọi người đều nhìn anh chàng vận đỏ, hai tay anh ta vừa đếm tiền vừa run.

– Tớ nghe thấy, – anh ta nói, – như có ai thét vào tai!

– Thần tài sẽ trị mối tuyệt vọng của anh chàng.

– Hắn chẳng phải là một tay chơi, – gã hồ lỳ lại nói, – nếu không thì hắn đã đặt tiền vào ba mặt mà đánh cho chắc ăn hơn.

Chàng trẻ tuổi khi đi ra quên đòi mũ; nhưng lão gác cửa thấy cái đồ tã ấy tàng quá nên lặng lẽ đưa trả anh ta; anh ta như cái máy hoàn lại phiếu rồi vừa bước xuống cầu thang vừa huýt sáo bài di tanti palpiti[14] khe khẽ đến mức riêng anh cũng chỉ nghe hơi rõ những điệu du dương. Chẳng mấy lúc anh đã ở đường hành lang khu Hoàng cung, anh đi đến tận phố Saint-Honoré, hướng về công viên Tuileries và chân bước ngập ngừng qua khu vườn. Anh đi như giữa bãi sa mạc, sát cánh với những người mà anh chẳng nhìn thấy, qua những tiếng ồn ào của dân chúng chỉ nghe thấy một tiếng, tiếng của thần chết; nghĩa là anh đắm đuối trong một cuộc suy nghĩ làm thẫn thờ cả người, chẳng khác gì những tội nhân xưa kia do một chiếc xe bò dẫn từ Tòa án ra tới Grève, cái nơi pháp trường đã từng nhuốm hết máu đỏ ra từ năm 1793. Trong việc tự sát có cái gì vừa vĩ đại vừa kinh khủng. Vô số kẻ khuỵu xuống mà không nguy hiểm cũng như những đứa trẻ ngã từ chỗ thấp khó mà bị thương; nhưng khi đã là một vĩ nhân tự hủy hoại, ông ta hẳn phải đứng từ chỗ thật cao, đã phải leo lên tới tận mây xanh, đã hé nhìn thấy nơi cực lạc cấm địa nào. Phải là những cơn giông tố đầy trời đến thế nào mới buộc ông ta phải nhờ họng một khẩu súng ngắn đem lại yên tĩnh cho tâm hồn. Có biết bao tài năng trai trẻ bị giam hãm trong một gian gác xép, tàn úa đi và tiêu ma vì thiếu một người bạn, thiếu một người đàn bà an ủi ở giữa hàng triệu người, trước mặt một đám đông ngán vì tiền bạc và đâm ra chán chường. Suy đến thế thì vấn đề tự sát trở thành to lớn vô cùng. Giữa việc quyên sinh và niềm hy vọng tràn trề đã kêu gọi một thanh niên tới Paris, chỉ duy Trời biết đã có bao nhiêu tư tưởng va chạm, bao nhiêu thơ văn bị bỏ rơi, bao nhiêu thất vọng và tiếng kêu nghẹn ngào, bao nhiêu mưu toan vô hiệu và bao nhiêu kiệt tác bị sa sẩy. Mỗi cuộc tự sát là một bài thơ bi ai trác tuyệt. Trong biển cả văn chương, anh tìm đâu thấy một tác phẩm nổi lên có thể xuất sắc ngang với những dòng này:

Hôm qua, hồi bốn giờ, một thiếu phụ từ trên nhịp cao cầu Nghệ thuật đã lao xuống sông Seine trẫm mình.

Trước những dòng vắn tắt kiểu Paris đó, biết bao vở kịch, biết bao tiểu thuyết hết thảy đều lu mờ, ngay cả cái tiêu đề cũ kỹ này: Những lời than vãn của ông vua quang minh xứ Kaërnavan bị các con bỏ ngục; đoạn cuối cùng của một cuốn sách đã thất lạc, mà ngay cả Sterne là kẻ đã ruồng rẫy vợ con, chỉ đọc thôi cũng phải rơi nước mắt. Chàng lạ mặt cũng bị hàng nghìn điều suy nghĩ như vậy tấn công, nó đi qua tâm hồn từng mảnh như những lá cờ rách phấp phới giữa một cuộc giao chiến. Nếu có lúc nào anh ta đặt cái gánh nặng tâm hồn và hồi tưởng xuống để dừng chân trước vài bông hoa mà gió đung đưa nhẹ nhàng giữa những lùm cây xanh, thì chẳng bao lâu, sửng sốt vì cơn giãy giụa của bản năng sống, ngóc đầu lên dưới sức nặng của ý định tự sát, anh ngước nhìn trời; trên kia, những đám mây xám xịt, những luồng gió nặng trĩu u sầu, một bầu không khí nặng nề vẫn khuyên mời anh từ giã cõi đời. Anh vừa lững thững đi về phía cầu Hoàng gia vừa nghĩ tới những ngón chơi ngông cuối cùng của những kẻ đi trước anh. Anh mỉm cười nhớ tới huân tước Castelreagh đã thỏa mãn cái nhu cầu hạ đẳng nhất của con người trước khi tự cắt cổ, và nhà hàn lâm Auger đã đi tìm hộp thuốc để làm một mồi khi bước tới cái chết. Anh đang phân tích những hành động kỳ quặc đó và tự hỏi mình, thì vừa lúc ấy, khi nép người vào lan can cầu để cho một tay phu bốc vác ở chợ đi qua, hắn làm lấm tay áo anh một chút, anh bất chợt thấy mình giũ tay áo cẩn thận cho hết bụi. Đi tới điểm cao nhất của nhịp cầu uốn, anh nhìn dòng nước một cách ảo não.

– Trời thế này chẳng đáng trẫm mình, – một bà già ăn mặc rách rưới cười bảo anh. – Sông Seine dễ thường lạnh và bẩn đấy nhỉ?

Anh đáp lại bằng một nụ cười đến là ngây thơ, nó chứng tỏ lòng can đảm điên rồ của anh, nhưng chợt anh rùng mình nhìn thấy ở đằng xa, trên bến Tuileries, chiếc lều có tấm biển với những chữ cao tới hơn gang tay[15]: Cứu chữa những người chết đuối. Anh thấy hiện ra trước mắt ông Dacheux[16] đang giương cao tấm lòng thương người của mình, đánh thức và thúc giục những tay chèo phúc đức của ông, họ đập choáng óc những kẻ chết đuối nào vô phúc ngoi lên mặt nước; anh tưởng thấy ông ta đang tập hợp đám người tò mò, tìm kiếm một thầy thuốc, chuẩn bị lửa đốt để sưởi; anh đọc lên những dòng ai điều mà những tay nhà báo viết giữa những niềm hoan hỉ của một bữa tiệc và nụ cười của một vũ nữ; anh tưởng nghe tiếng xoang xoảng của những đồng tiền mà viên quận trưởng quận Seine đếm trả những tay chèo đã vớt xác anh. Chết đi, anh đáng giá năm mươi quan, nhưng lúc sống anh chỉ là một kẻ có tài mà không ai che chở, không bạn, không ổ nằm, không tăm tiếng, một con số không thật sự trong xã hội, vô dụng cho Nhà nước, họ chẳng quan tâm đến anh mảy may. Một cái chết giữa ban ngày đối với anh là nhục nhã, anh quyết định chết về ban đêm, để trao một cái thây không ai nhận ra mặt nữa cho cái xã hội này, nó không biết tới giá trị lớn của cái tính mệnh anh. Thế là anh tiếp tục đi, hướng về phía đường bờ sông Voltaire, chân bước đủng đỉnh như một kẻ nhàn rỗi muốn giết thời giờ. Khi anh bước xuống những bậc cuối thềm cầu, ở góc đường bờ sông, anh phải chú ý tới những cuốn sách cũ bày trên bao lơn: chỉ chút nữa là anh đã mặc cả mua mấy cuốn. Anh chợt mỉm cười, lại đút tay vào túi ra vẻ triết nhân, và anh sắp tiếp tục bước đi ung dung lộ vẻ khinh mạn lạnh lùng, thì bỗng anh ngạc nhiên nghe thấy từ đáy túi tiếng mấy đồng tiền vang lên một cách thật sự quái dị. Một nụ cười hy vọng làm mặt anh sáng lên, lướt từ môi đến mặt, đến trán, làm ngời đôi mắt và đôi má tối sầm. Cái tia hạnh phúc đó giống như những ngọn lửa cháy lan ra những chỗ còn sót của một tờ giấy đã bị lửa thiêu: nhưng bộ mặt, theo số phận của đám tro tàn, trở lại sa sầm khi chàng trai, rút mạnh tay ở túi ra, nhìn thấy ba đồng xu to.

– Dạ, xin ông từ tâm làm phúc, làm đức! Ơn thánh Catarina! Một đồng xu mua tấm bánh!

Một thằng nhỏ làm nghề thông ống khói, mặt mày nhọ nhem, mình đầy bồ hóng, quần áo rách bươm, chìa tay ra trước mặt chàng trai để tước nốt mấy đồng xu cuối cùng của anh. Cách thằng bé ăn xin hai bước, một ông già nghèo khổ, ốm đau, mình khoác mảnh vải đệm thủng tồi tàn, kêu gọi anh, giọng khàn khàn:

– Xin ông tùy tâm làm phúc. Cầu Trời phù hộ cho ông…

Nhưng chàng trai vừa ngang nhìn ông già, thì ông này im bặt không hỏi gì nữa, chắc hẳn vì nhận ra trên bộ mặt thảm hại kia bóng dáng một nỗi cơ cực, còn thiểu não hơn cả cảnh mình.

– Làm phúc! Làm đức!

Chàng trai ném chỗ tiền cho thằng nhỏ và ông già rồi rời thềm cầu đi về phía dãy nhà ở, anh không còn chịu nổi cái vẻ ảm đạm của sông Seine nữa.

– Cầu Trời cho ông sống lâu! – hai người ăn mày nói với anh.

Khi đi tới một quầy hàng bán tranh, con người gần như chết ấy gặp một thiếu phụ từ một chiếc xe choáng lộn bước xuống. Anh khoái trá ngắm nhìn mỹ nhân với khuôn mặt trắng trẻo nhịp nhàng trong làn satin của chiếc mũ thanh nhã. Thân hình mảnh dẻ với những cử động duyên dáng của nàng quyến rũ anh; chiếc áo dài vướng vào bực xe khẽ vén lên, để hở ra ống chân thon thon nổi bật trong làn tất trắng căng thẳng. Người thiếu phụ bước vào cửa hàng, mặc cả mua những an-bom, những tập tranh in thạch bản; chị ta mua hàng và trả tiền bằng những đồng tiền vàng lóng lánh kêu xoang xoảng trên quầy hàng. Anh chàng làm ra vẻ bận ở ngoài cửa ngắm những bức tranh trong tủ kính, trao mắt nồng nàn liếc nhìn người đẹp không quen biết, cái liếc thấu suốt trần đời của một chàng trai, nhưng nó chỉ được đáp lại bằng đôi mắt hững hờ nhìn bâng quơ vào đám người qua lại. Về phía chàng trai thì đó là một lời vĩnh biệt với tình yêu, với đàn bà! Nhưng lời ướm hỏi cuối cùng và nồng nhiệt ấy không được thông cảm, không làm xúc động người đàn bà phù phiếm ấy, không làm cho chị ta đỏ mặt, không làm cho chị ta cúi mặt nhìn xuống. Thì cái đó đối với chị ta có nghĩa gì? Chẳng qua là thêm một sự ngưỡng mộ, một thèm muốn được khêu lên, gợi cho chị ta một lời êm dịu buổi tối hôm đó: hôm nay mình khoái quá. Anh chàng lập tức bước sang một khung cảnh khác, anh chẳng quay lại khi chị lạ mặt lên xe. Ngựa bước đi, cái hình ảnh cuối cùng của xa hoa và lịch sự tan biến như cuộc đời của anh sắp tan biến. Anh bước đi rầu rĩ theo dọc các cửa hàng, ngắm nhìn mà chẳng tha thiết cho lắm những mẫu hàng. Hết cửa hàng, anh ngắm xem điện Louvre, Học viện, những tháp nhà thờ Đức Bà, tháp Tòa án, cầu Nghệ thuật[17].

Những dinh thự ấy dường như mang một bộ mặt rầu rĩ vì phản chiếu màu xám của bầu trời mà những tia sáng hiếm hoi làm cho Paris có vẻ dữ tợn giống như một mỹ nhân khi xấu khi đẹp, oái oăm khó hiểu. Như vậy, ngay cả cảnh vật tự nhiên cũng phụ họa để dìm chàng trai vào một cơn hôn mê đau đớn. Do một quyền lực tai hại truyền sức tan rã qua cái chất lỏng chạy theo các đường dây thần kinh, chàng trai cảm thấy cơ thể của mình gần như loãng ra. Những dằn vặt trong cơn hấp hối khiến anh lảo đảo chập chờn như sóng và mắt anh nhìn những nhà cửa, người qua lại, tất cả đều dập dềnh như qua một làn sương. Để cho tâm hồn khỏi đê mê vì phản ứng của cảnh vật, anh đi tới một cửa hàng đồ cổ nhằm đem lại cho giác quan cái để mà cảm xúc hoặc cũng lấy việc mặc cả những đồ mỹ nghệ mà chờ cho đến tối. Có thể nói như vậy là để đi tìm kiếm lòng can đảm và cầu xin một liều thuốc bổ, chẳng khác gì bọn tội nhân đâm ngờ sức lực của mình khi bước tới đoạn đầu đài; nhưng ý thức về cái chết sắp tới của anh trong một lúc cũng lại cho anh sự an tâm ví như một bà quận công có hai nhân ngãi, và anh bước vào cửa hàng đồ quý với một vẻ thoải mái, để hiện lên trên môi một nụ cười không tắt như một gã say rượu, phải chăng anh say cuộc sống, hay có lẽ say cái chết? Chẳng bao lâu anh bị choáng váng và lại nhìn thấy sự vật nhuốm những màu sắc kỳ lạ, hoặc chuyển động nhẹ nhàng mà nguyên nhân chắc là do mạch máu lưu thông không đều, khi thì sôi sục như dòng thác, khi lại lặng lẽ, tẻ nhạt như làn nước ấm. Anh chỉ yêu cầu thăm các gian hàng để xem có vật lạ gì vừa ý anh. Một thằng bé mặt tươi tỉnh, má phính, tóc đỏ hoe, đội một chiếc mũ lưỡi trai bằng da rái cá, trao cửa hàng cho một mụ già quê mùa, một kiểu Caliban[18] cái, đang mải lau chùi một chiếc lò sưởi tráng men quý do thiên tài của Bernard de Palissy[19]; rồi hắn nói với khách lạ một cách hờ hững:

– Mời ông vào xem! Ở tầng dưới này chúng tôi chỉ bày những vật tầm thường vậy thôi; nhưng nếu ông chịu khó lên gác một, tôi sẽ chỉ cho ông xem những xác ướp rất đẹp của Caire[20], nhiều đồ gốm chạm trổ, một số đồ điêu khắc bằng mun, phục hưng chính cống, hàng mới về và tuyệt đẹp.

Trong hoàn cảnh thảm hại của người khách lạ, cái kiểu nói liến thoắng của kẻ hướng dẫn đó, những lời lẽ con buôn ngu ngốc đó đối với chàng trai dường như những lời châm chọc nhỏ nhen mà những đầu óc hẹp hòi dùng để giết hại một bậc thiên tài. Chịu đựng đến cùng, anh làm ra vẻ lắng nghe gã hướng dẫn và đưa tay hoặc ậm ừ để trả lời; nhưng rồi dần dần anh cũng giành được cái quyền im lặng và có thể yên tâm triền miên với những suy nghĩ cuối cùng thật là kinh khủng. Anh là nhà thơ, do đó tâm hồn anh ngẫu nhiên gặp mảnh đất dinh dưỡng mênh mông; tưởng đâu như anh nhìn thấy trước đống xương tàn của hàng hai mươi thế giới khác nhau. Thoạt nhìn, những gian hàng bày ra một cảnh hỗn độn trong đó hết thảy mọi sự nghiệp con người và thần thánh va chạm nhau. Những con cá sấu, khỉ, rắn, trăn nhồi rơm mỉm cười với những kính tô màu của giáo đường, dường như muốn cắn những tượng nửa mình, chạy theo những đồ sơn, hay leo lên những chùm đèn treo. Một chiếc bình Sèvres[21], trên đó Jacotot[22] đã vẽ hình Napoléon, đặt bên cạnh một bức tượng đầu người mình sư hiến dâng cho Sésostris[23]. Thời khai thiên lập địa trà trộn với những biến cố vừa qua một cách thật thà thô kệch. Một chiếc lò quay thịt đặt trên một chiếc bình đựng bánh thánh, một thanh kiếm cộng hòa đặt trên một chiếc súng kíp thời trung cổ. Bà Dubarry do Latour[24] vẽ bằng phấn màu, với một ngôi sao trên đầu, trần truồng trong một đám mây, dường như vừa ngắm một cách thèm muốn một chiếc điếu hút thuốc Ấn Độ, vừa đoán xem lợi ích của những đường vòng chôn ốc ngoằn ngoèo hướng về phía mình. Những đồ dùng giết người: dao găm, súng ngắn lạ kiểu, vũ khí bí hiểm, vứt lẫn lộn với đồ dùng sinh sống: liễn súp bằng sứ, đĩa Saxe[25], chén kiểu phương Đông từ Trung Quốc sang, bình đựng muối cổ xưa, hộp đựng kẹo thời phong kiến. Một chiếc tàu bằng ngà căng buồm bơi trên lưng một con rùa bất động.

Một máy rút không khí làm lòi mắt hoàng đế Auguste[26] thản nhiên một cách oai nghiêm. Nhiều chân dung các vị phán quan Pháp, xã trưởng Hà Lan, bây giờ cũng vô tình như lúc sinh thời, vươn lên trên cái mớ hỗn độn những đồ cổ và nhìn vào đấy bằng con mắt nhợt nhạt lạnh ngắt. Hết thảy các nước trên mặt đất dường như đã mang tới đấy một di vật về kiến thức của họ, một mẫu đồ nghệ thuật của họ. Nó như một đống phân triết học ở đó không thiếu một thứ gì, từ chiếc điếu hút thuốc của dân man rợ đến chiếc giày vải màu xanh lẫn vàng của hoàng cung Thổ Nhĩ Kỳ, thanh gươm của người Maure[27], tượng thần của dân Tartare[28]; có cả đến chiếc túi đựng thuốc của người lính, chiếc bình đựng bánh thánh của giáo sĩ những lông chim cắm ở một ngai vàng. Những bức tranh quái gở ấy lại chịu tác động muôn vẻ của ánh sáng, bao nhiêu ánh hồi quang kỳ quặc do màu sắc pha trộn, do sáng tối đột ngột chọi nhau. Tai tưởng như nghe thấy tiếng chuông liên hồi trí óc như thâu tóm những tấn kịch bỏ dở, mắt như nhìn thấy những ánh sáng chưa dập tắt hết. Tựu trung một làn bụi ngoan ngạnh đã phủ một tấm màn nhẹ lên hết thảy những phẩm vật đó, mà bao nhiêu là góc cạnh là đường ngoắt ngoéo tạo nên những ấn tượng muôn hình nghìn vẻ. Người khách lạ thoạt tiên nhìn ba gian phòng đầy những nền văn minh, những tôn giáo, những thần thánh, những kiệt tác, những hoàng gia, những dâm loạn, lý trí và điên cuồng, ví nó như một tấm gương nhiều mặt, mỗi mặt hình dung một thế giới riêng. Sau cái cảm giác mông lung đó, anh muốn lựa chọn vật để thưởng thức; nhưng cứ nhìn, cứ suy nghĩ, cứ mơ mộng mãi, anh bỗng như bị một cơn sốt hành hạ, có lẽ là do ruột gan anh đã bị cái đói nó cào xé. Nhìn thấy bao nhiêu kiếp sống của những dân tộc và của những cá nhân được chứng minh bằng những di vật của con người để lại, các giác quan chàng trai hoàn toàn bị tê liệt: thế là cái ý đồ thúc đẩy anh bước vào cửa hàng này đã đạt được: anh thoát ly cuộc sống thực tại, vươn dần lên một thế giới lý tưởng, bước tới những lâu đài kỳ diệu của hôn mê, trong đó vạn vật hiện ra từng mảnh bằng những tia lửa, giống như xưa kia thế giới vị lai diễu qua rực sáng trước mắt thánh Jean trên đảo Pathmos[29].

Vô số những hình tượng ảo não, kiều diễm và kinh khủng tối tăm và sáng suốt, xa xôi và gần gũi, đứng lên từng đám, cả muôn ngàn, cả thế hệ. Ai Cập cứng cỏi, bí hiểm, vươn lên trên những bãi cát, hình dung bằng một xác ướp quấn trong băng đen: bọn Pharaons[30] chôn sống biết bao nhiêu người để xây dựng cho chúng một ngôi mộ. Moïse, người Hébreux[31], sa mạc: anh hé trông thấy cả một thế giới cổ xưa và trang trọng. Tươi tắn và dịu dàng, một pho tượng đá hoa ngồi trên một chiếc cột xoắn và rực rỡ màu trắng, nói với anh những thần thoại mê ly của Hy Lạp và Ionie[32]. Chà! Ai mà chẳng như anh, mỉm cười khi nhìn thấy trên nền đất thó đỏ mịn màng của một chiếc bình Étrurie[33]: cô gái tóc nâu nhảy múa chào mừng hân hoan trước mặt thần Priape[34]. Đối diện là một hoàng hậu Latinh vuốt ve trìu mến con quái vật của bà!

Những thời thượng của La Mã đế vương còn sống đầy đủ ở nơi đây và bày ra đồ tắm, giường nằm, đồ trang điểm của một nàng Julie ủy mị, mơ mộng, chờ đợi Tibulle[35] của nàng. Với hiệu lực của những tấm bùa Ả rập, chiếc đầu của Cicéron[36] gợi ra những sự tích của La Mã tự do và mở ra trước mắt anh những trang sử của Tite-Live[37]; chàng trai ngắm nhìn Senatus Populusque Romanus[38]; viên tổng tài những cảnh vệ, những áo thụng viền đỏ, những cuộc đấu tranh ở Quốc dân hội nghị, nhân dân phẫn nộ, tất cả từ từ diễu qua trước mặt anh như những hình tượng mơ hồ của một giấc chiêm bao. Cuối cùng bao trùm lên là hình ảnh Cơ Đốc La Mã. Một bức họa mở ra cảnh nhà trời: anh nhìn thấy ở đó Đức mẹ Đồng trinh Marie chìm ngập trong một đám mây vàng, giữa các thiên thần, làm lu mờ cả ánh rực rỡ của mặt trời, lắng nghe lời than vãn của người nghèo khổ mà nàng Eve tái sinh ấy mỉm cười với họ một vẻ hiền từ. Khi mó vào một tấm đồ khảm bằng những loại đá khác nhau của núi lửa Vésuve và Etna phun ra, tâm hồn anh bay tới nước Ý nóng ấm và màu hung hung: anh tham dự những cuộc hành lạc của Borgia[39], leo trèo trên dãy núi Abruzzes, khát khao những cuộc tình duyên Ý, đắm say với những khuôn mặt trắng trẻo và những cặp mắt lá liễu màu huyền. Anh rợn mình vì màn chót của những chuyện đêm hôm bị lưỡi gươm vô tình của đức ông chồng làm gián đoạn, khi anh trông thấy một mũi dao găm trung cổ chuôi chạm khắc như một đồ ren, và vết gỉ giống những vết máu. Ấn Độ và những tôn giáo của nó sống lại trong một ông phỗng.

Trung Quốc đầu đội nón chóp, với những hình quả trám vểnh lên, đeo chuông nhỏ mặc quần áo lụa và kim tuyến. Gần ông phỗng, một chiếc chiếu, cũng đẹp như người vũ nữ đã lăn mình trên đó vẫn còn tỏa ra mùi hương bạch đàn. Một con quái vật Nhật Bản mắt ốc nhồi, miệng uốn quanh, chân vặn vẹo, thức tỉnh tâm hồn bằng những sáng chế của một dân tộc, chán ngán vì cái đẹp đơn điệu nhất loạt, tìm thấy hứng thú khôn tả trong vô số những hình thù xấu xí. Một chiếc bình đựng muối do xưởng Benvenuto Cellini chế tạo[40] đưa anh trở lại giữa thời đại Phục hưng, thời mà các nghệ thuật và phóng túng nở như hoa, mà bọn vua chúa mua vui bằng những khổ hình, mà những Giáo nghị hội[41], được ôm ấp trong tay bọn kỹ nữ, ra quyết nghị bắt đám giáo sĩ bình thường phải giới sắc. Anh nhìn thấy trên bức đá chạm những cuộc chinh phục của Alexandre[42]; trong một chiếc súng hỏa mai những cuộc tàn sát của Pizarre[43], trong đáy một chiếc mũ những cuộc chiến tranh tôn giáo điên cuồng, sôi sục, tàn ác. Rồi những hình ảnh tươi vui của giới kỹ sĩ hiện ra trên một bộ áo giáp thành Milan khảm kim tuyến tinh vi, đánh thật bóng, và dưới vành mũ sắt vẫn còn long lanh cặp mắt của một hiệp sĩ. Hằng hà sa số những đồ đạc, sáng chế, thời thượng, sự nghiệp, cảnh điêu tàn đó đều tạo nên cho anh một bài thơ bất tuyệt. Hình thái, màu sắc, tư tưởng, tất cả sống lại ở đó; nhưng chẳng có cái gì toàn vẹn được hiến cho tâm hồn. Nhà thơ phải hoàn thành những ký họa của nhà họa sĩ lớn đã dựng lên bản tô màu đồ sộ trên đó biết bao biến cố của đời người được ném lên vô kể với lòng khinh bạc. Sau khi đã chiếm lĩnh thế giới, sau khi đã ngắm những xứ sở, những thời đại, những triều vua, chàng trai trở về với những vận mệnh cá nhân. Anh lấy lại bản lĩnh, xâm nhập những chi tiết mà đẩy lui vận mệnh những dân tộc quá ư nặng nề đối với một con người đơn độc.

Một thằng bé bằng sáp còn giữ được của bảo tàng Ruysch[44] nằm ngủ ở đó, nhân vật xinh tươi ấy nhắc anh những niềm vui buổi thiếu thời. Trước vẻ mê hoặc của chiếc khăn quấn mình trinh khiết của cô gái Otaïti nào đó, trí tưởng tượng nồng nhiệt của anh vẽ cảnh sống thuần phác của thiên nhiên, vẻ trần truồng trinh bạch của mối e lệ thật sự, những lạc thú của an nhàn rất tự nhiên ở con người, tất cả một cuộc sống yên tĩnh bên bờ một dòng suối mát mơ mộng, dưới bóng một cây thuốc rừng cho trái ăn ngọt ngào. Nhưng đột nhiên, anh trở thành một tay cướp biển và mang trên mình cái chất thơ kinh dị in dấu trong vai Lara[45], khi anh bị cảm xúc mạnh trước những màu xà cừ của hàng ngàn thứ vỏ trai, bị kích thích vì trông thấy vài con thạch tàm[46] đượm mùi rong biển, rêu biển và những trận cuồng phong trên Đại Tây Dương. Ở phía xa, ngắm nghía những bức tiểu họa tinh vi những kiểu vẽ Ả rập vàng lam tô điểm cho cuốn sách kinh viết tay quý báu, anh quên đi những xôn xao của biển cả. Êm ru trong cái tư tưởng yên tĩnh, anh lại thiết tha với nghiên cứu và khoa học, ước ao cuộc sống đầy đủ của những tu sĩ không biết ưu phiền, hoan lạc và ngủ sâu trong một phòng kín, ngắm những cánh đồng, những khu rừng, những vườn nho qua cửa sổ khum nhọn của tu viện.

Trước một số bức họa của Teniers[47], anh choàng lên vai chiếc áo lính hay nỗi nghèo khổ của người thợ; anh muốn đội chiếc mũ vải bẩn và ám khói của người xứ Flandre, uống bia say sưa, đánh bài với họ, và mỉm cười với chị gái quê béo tốt dễ ưa. Anh run lên khi thấy một mảnh tuyết rơi của Miéris[48], hay xông ra trận khi xem một cảnh chiến đấu của Salvator Rosa[49]. Anh vuốt ve một chiếc rìu trận của người Ilinois, và cảm thấy mũi dao của một người dân Chérokées[50] bóc lần da sọ của anh. Kinh ngạc trước một chiếc đàn Rebec[51], anh trao nó vào tay một bà chúa lâu đài, mà anh vừa nghe bản tình ca êm ái, vừa ngỏ mối tình với nàng, buổi chiều hôm, bên cạnh một chiếc lò sưởi gothique, trong bóng tối lờ mờ che khuất cái đưa mắt thuận tình. Anh níu lấy mọi niềm hân hoan, thâu tóm mọi nỗi đau khổ, chiếm lĩnh mọi phương thức sinh hoạt và rộng lòng vung vãi cuộc đời tình cảm lên những ảo ảnh của cái giới tạo hình và trống rỗng đó, đến nỗi tiếng chân anh bước đi vang vào tâm hồn anh như tiếng xa xôi của một thế giới khác, như tiếng ồn ào của Paris vang tới ngọn tháp nhà thờ Đức Bà. Khi lên cầu thang trong dẫn tới những gian phòng trên gác một, anh trông thấy những chiếc khiên tiến thần[52], những giá binh khí, những khám thờ chạm trổ, những hình tượng bằng gỗ treo trên tường, đặt trên mỗi bậc thang. Bị ám ảnh bởi những hình thù lạ lùng nhất, bởi những sáng tạo kỳ diệu đặt trên ranh giới giữa cuộc sống và cái chết, anh bước đi trong tình trạng bàng hoàng của một giấc mơ; cuối cùng ngờ vực cả sự tồn tại của mình, anh giống như những vật kỳ lạ kia, không chết hẳn mà cũng không sống hoàn toàn. Khi anh bước vào những kho hàng mới thì ánh ngày bắt đầu nhạt; nhưng ánh sáng dường như không ích gì cho những của cải bằng vàng bạc rực rỡ chồng chất ở nơi đây. Những vật thị hiếu giá đắt nhất của những tay phá gia chết trong một gian gác xép sau khi giàu có bạc triệu, đều có mặt trong cái cửa hàng thênh thang bày những cuồng vọng của con người này. Một nghiên mực mua hàng mười vạn quan và bán lại một trăm xu, nằm trơ bên cạnh một ổ khóa bí mật mà giá cả xưa đủ để chuộc lại một ông vua.

Ở đây, thiên tài con người phô bày trong tất cả những huy hoàng của niềm khổ cực của họ, trong tất cả ánh vinh quang của những cái nhỏ mọn đồ sộ của họ. Một chiếc bàn mun, vật ngưỡng mộ thật sự của nghệ sĩ, chạm khắc theo bản vẽ của Jean Goujon[53], xưa kia đã mất bao nhiêu năm gia công, thế mà có lẽ đã được mua theo giá củi đun. Những tráp quý, những đồ đạc do những bàn tay tiên tạo nên, nhưng ở đây thì chất đống một cách rẻ mạt.

– Tại đây tài sản của cậu có hàng triệu – chàng trai thốt lên khi bước tới buồng cuối một dãy gian hàng do những nghệ sĩ thế kỷ trước chạm trổ và thếp vàng.

– Phải nói là hàng tỷ, – chú bé má phính đáp, – Nhưng vẫn chưa thấm vào đâu: ông hãy lên gác ba mà xem!

Chàng theo chân chú hướng dẫn và bước tới gian hàng thứ tư ở đó lần lượt diễu qua trước mắt mệt mỏi của anh nhiều bức họa của Poussin[54], một pho tượng kỳ diệu của Michel Ange[55], một số tranh phong cảnh kỳ thú của Claude Lorrain[56], một bức của Gérard Dow[57] giống như một trang sách của Sterne, những bức của Rembrandt[58], của Murillo, của Velasquez[59] vừa u ám vừa rực rỡ màu sắc như một thi phẩm của huân tước Byron; rồi đến những bức chạm nổi cổ, những cốc đá mã não, những viên bạch ngọc tuyệt đẹp; cuối cùng là những công trình làm cho người ta ghê sợ lao công, những kiệt tác chất đầy đến mức gây lòng căm ghét nghệ thuật và giết chết nhiệt tình. Anh đến trước một bức Thánh mẫu đồng trinh của Raphaël nhưng anh đã ngán cả Raphaël [60]; một chân dung của Corrège[61] cũng chẳng được anh đoái nhìn nữa; một chiếc bình cổ vô giá bằng đá hoa vân mà những hình chạm vòng tròn hình dung bài thơ tục tĩu, thô kệch nhất trong các bài thơ tục La Mã, nay cũng chỉ được anh thoáng mỉm cười. Anh ngạt thở dưới đống di vật của hàng năm mươi thế kỷ đã tàn, anh phát ốm vì tất cả những tư tưởng loài người, bị giết chết vì xa hoa và nghệ thuật, bị đè nén dưới những hình thù hồi sinh đó, giống như những quái vật do một ác thần tinh quái nào đó tạo nên, chúng giao tranh với anh trong một cuộc chiến đấu khôn cùng. Giống như khoa hóa học hiện đại trong những biến hóa vô thường thâu tóm sự sáng tạo trong một thể khí, linh hồn phải chăng tạo nên những chất độc kinh khủng bằng sự tập trung mau lẹ những lạc thú, những lực lượng hay những tư duy của nó? Vô số người phải chăng đã chết vì sự tác động đột ngột của một thứ axit tinh thần nào đó bất thình lình lan ra trong tâm thần của họ?

– Cái hòm kia đựng gì? – anh vừa hỏi vừa trỏ một chiếc hòm vuông lớn bằng gỗ đào hoa tâm treo vào một chiếc đinh bằng một sợi dây chuyền bạc, khi anh bước tới một phòng lớn, nơi cuối cùng chất đống những vinh quang, cố gắng của con người, những phẩm vật tân kỳ, những của cải.

– À! Ông tôi giữ chìa khóa, – chú bé má phính trả lời ra vẻ bí mật. – Nếu ông muốn xem bức chân dung ấy, tôi sẵn sàng đánh liều hỏi ông tôi.

– Liều ư! – Chàng trai nói. – Ông chủ của chú có phải là một ông hoàng.

– Nào tôi biết đâu, – chú bé đáp.

Hai người nhìn nhau một lúc, cả hai người cùng ngỡ ngàng. Chú bé làm công thấy khách lạ im lặng thì tưởng là bằng lòng, liền bỏ anh đứng lại một mình trong gian buồng. Có bao giờ anh lao mình vào khoảng mênh mông của không gian và thời gian khi đọc những tác phẩm về địa chất học của Cuvier[62]? Được thiên tài của ông lôi cuốn, anh có thấy mình liệng bay trên vực thẳm không bờ của quá khứ, như được bàn tay của một pháp sư dìu đỡ? Khi khám phá ra từ khoảnh này đến khoảnh khác, lớp này đến lớp khác, dưới những mỏ đá ở Montmartre hay trong những phiến nham thạch núi Uran, những cơn vật mà xương cất thạch hóa thuộc về những nền văn minh thái cổ, tâm hồn đâm kinh hãi né trông thấy hàng tỉ năm, hàng triệu dân tộc mà trí nhớ yếu ớt của con người, mà truyền thống thần thánh bất diệt đã quên lãng, và đám tro tàn ấy bị đẩy lên trên mặt đất chúng ta, cấu tạo thành lớp đất sáu tấc[63] rồi nảy sinh ra cho ta bánh và hoa. Phải chăng Cuvier là nhà thơ lỗi lạc nhất của thời đại chúng ta? Huân tước Byron đã từng tái hiện bằng từ ngữ một số xúc động tinh thần; nhưng nhà tự nhiên học bất tử của chúng ta đã tái tạo những thế giới bằng mớ xương trắng, đã như Cadmus[64] tái lập những đô thành bằng những chiếc răng, đã làm sống lại mọi bí mật động vật học của hàng nghìn khu rừng bằng mảnh vải than đá, đã tìm ra những cư dân khổng lồ trong bàn chân của một con voi ma mút[65]. Những hình tượng đó dựng lên, to lớn dần và trần thiết những khu vực ăn nhịp với tầm vóc đồ sộ của chúng.

Ông là nhà thơ bằng những con số, ông tác tuyệt ở chỗ đặt một con số không bên cạnh con số bảy, ông làm thức dậy cõi hư vô mà không phải niệm những lời thần chú huyền diệu; ông mân mê một mảnh thạch cao, nhận thấy ở đó một vết tích, và kêu lên: “Này xem”. Bỗng chốc những đá hoa hóa thành động vật, cái chết được hồi sinh, thế giới được trải ra. Sau vô số những thế hệ động vật khổng lồ, sau những chủng loại cá và những họ hàng trai sò, cuối cùng tới loài người, sản phẩm biến tính của một giống vật kỳ vĩ mà có lẽ Đấng Tạo hóa đã phế bỏ. Được con mắt hồi tưởng hun nóng, những con người yếu ớt, mới sinh bữa qua, có thể vượt qua đời hỗn mang, cất tiếng hát bài tụng ca bất tuyệt và hình dung quá khứ của vũ trụ trong một thứ Mặc thị lục[66] ngược dòng. Đứng trước cuộc phục sinh phi thường nhờ tiếng nói của độc một con người đó, chúng ta đâm thương cái khoảnh khắc đời sống, nó là mảnh vụn mà quyền hưởng dụng trao lại cho chúng ta, trong cả cái vô tận không tên tuổi, chung cho hết thảy mọi lĩnh vực, mà chúng ta gọi tên là thời gian. Chúng ta tự hỏi, khi chúng ta bị đè bẹp dưới bao nhiêu thế giới lụi tàn, thì có sá gì những vinh quang, những căm thù, những tình yêu của chúng ta; và nếu đời sống trở thành một điểm mơ hồ không nhận thấy trong tương lai, thì nỗi đau khổ của loài người có đáng chấp nhận hay không? Bị bật rễ khỏi hiện tại, chúng ta nằm chết cho tới khi gã hầu buồng bước vào bảo chúng ta: Bà bá tước đã trả lời rằng bà đang chờ ông.

Chú thích:

[1] Félix Savary (1797-1841): Nhà thiên văn học và toán học Pháp, Viện sĩ Viện Hàn lâm, bạn của Balzac.

[2] Laurence Sterne (1713-1768): Nhà văn Anh. Trong tiểu thuyết Tristram Shandy (The Life and Opinions of Tristram Shandy Gentleman (1760-1767) của Sterne: một nhân vật muốn phát biểu ý kiến về đời sống con người lấy gậy vạch lên cát một đường ngoằn ngoèo từ trên xuống. Balzac vẽ một đường giống như vậy, nhưng chạy ngang và ngoằn ngoèo hơn, lấy đó thay lời đề tựa. Ông viết: “Trong tiểu thuyết, đời sống con người được diễn tả như tấn kịch, nó ngoằn ngoèo, lượn quanh, uốn khúc…”.

[3] Tháng Mười năm 1830, sau cuộc Cách mạng tháng Bảy 1830.

[4] Hoàng cung: khu này xưa vua chúa ở, thời Balzac, nơi hành lang liền đó là một dãy cửa hàng thời trang: sòng bạc, hiệu ăn…

[5] Guazacoalco: Một con sông Ở Mexico. Thời đại Trùng hưng (1815-1830), trên bờ sông đó đóng một đoàn phạm nhân Pháp bị đi đày.

[6] Darcet (1777-1844): Nhà khoa học Pháp, lợi dụng chất gélatine ở xương làm ra một món ăn rẻ tiền dùng ở tổ chức làm từ thiện.

[7] Nguyên văn là Xerber (Cerbère): Con chó giữ cửa cung Diêm vương (thần thoại).

[8] Jean Jacques Rousseau (1712-1778): Nhà văn Pháp, nhà triết học ánh sáng, câu này là theo ý của Rousseau trong tác phẩm Emile, (hay nói về giáo dục).

[9] Écu: Đồng tiền thời xưa.

[10] Nguyên văn nước bài ba mươi và bốn mươi một lối chơi bài là tính số điểm.

[11] Grève: Một pháp trường ở Paris.

[12] Tantale: Theo thần thoại Hy Lạp, Tantale vì hỗn xược với các thần bị đày xuống địa ngục, chịu cực hình đói khát, trông thấy quanh mình thức ăn nước uống mà không sao lấy được.

[13] Đồng tiền đúc thời Napoléon.

[14] Tiếng Ý. Thổn thức gì đây, một điệu hát trong vở ca kịch Tancredo của Rossini rất thịnh thời Balzac. Rossini (1792 -1868) là nhà soạn nhạc Ý nổi tiếng.

[15] Nguyên văn là pied: Đơn vị đo lường xưa dài chừng 30 phân.

[16] Dacheux: Viên thanh tra coi việc cứu vớt người trên sông Seine thời đó.

[17] Đây là những công trình kiến trúc danh tiếng của Paris.

[18] Caliban: Một nhân vật trong kịch Bão táp của Shakespeare, nô lệ man rợ, nửa người nửa quái.

[19] Bernard de Palissy: Nhà văn và nhà bác học Pháp (thế kỷ XVI), một người sáng chế ra đồ gốm tráng men.

[20] Le Caire: Thủ đô Ai Cập (bây giờ là Cộng hòa Ảrập thống nhất), nơi các vua chúa thời thượng cổ thường được ướp xác sau khi chết.

[21] Sèvres: Một nơi làm đồ sứ nổi tiếng của nước Pháp.

[22] Jacotot (1778-1855): Nữ nghệ nhân đồ sứ nổi tiếng thời Napoléon.

[23] Sésostris: Nhân vật anh hùng trong truyền kỳ Ai Cập.

[24] Dubary: Một người đàn bà được vua Louis XV sủng ái. Latour. (1704-1788) họa sĩ Pháp chuyên vẽ bằng bút chì màu.

[25] Saxe: Một miền nước Đức có nghề làm đồ sứ đẹp.

[26] Auguste: Hoàng đế La Mã nổi tiếng, thế kỷ I trước công lịch.

[27] Maure: Một giống người chủ yếu ở Bắc Phi.

[28] Tartare: Một giống người dòng dõi Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ.

[29] Theo truyền kỳ đạo Cơ đốc, thánh Jăng ở trên đảo Patmôx tưởng trông thấy tương lai và viết thành tập danh sách cuối của Tân ước nói về vận số của loài người (Mặc thị lục).

[30] Pharaon: Vua chúa Ai Cập thời cổ.

[31] Hébreux: Tổ tiên người Do Thái, mà Moise (Moise) là cứu tinh của dân tộc Do Thái.

[32] Ionie: Một xứ của Tiểu Á xưa là nơi người Hy Lạp di cư đến ở.

[33] Étrurie: Một miền xưa của nước Ý.

[34] Priape: Thần của Vườn tược, Nho, sự Sinh thành (thần thoại Hy Lạp)

[35] Julie: Con gái hoàng đế La Mã Ôguyxtơ, nổi tiếng vì sắc đẹp và nhiều chuyện tình duyên. Tibulle: Nhà thơ La Mã cổ, tác giả nhiều bản tình ca.

[36] Cicéron (l06-43 trước công lịch): Nhà chính trị và hùng biện La Mã.

[37] Tite Live (thế kỷ I trước công lịch): Sử gia La Mã.

[38] Tiếng Latinh: Nguyên lão nghị viện và nhân dân La Mã.

[39] Borgia: Một dòng họ có vai trò to lớn trong đời sống chính trị nước Ý thế kỷ XV-XVI, nổi tiếng vì tàn ác và phong tục đồi bại.

[40] Benvenuto Celini (1500-1571): Nhà điêu khắc và làm đồ vàng bạc nước Ý.

[41] Hội nghị các quan chức cao cấp của Giáo hội.

[42] Alexandre: Vua nước Maxedoan (trước Công lịch) một nhà
chinh phục lớn vùng Đông Nam âu Châu, Bắc Phi, Cận Đông.

[43] Pizarre (1475-1571): Một tay phiêu lưu Tây Ban Nha đã chinh phục nước Peru và tàn sát thổ dân Peru.

[44] Ruysch: Nhà giải phẫu học Hà Lan có một sưu tập lớn xác chết, thai đẻ non, và nhiều vật kỳ lạ khác. Năm 1717 Pie đại đế (Nga) đã mua được sưu tập này và đưa về Peterxbua.

[45] Lara: Nhân vật một tập thơ của thi sĩ Anh nổi tiếng Byron (1788 -1824), một kiểu người kiêu hãnh, oai hùng chống lại luật lệ bất công của xã hội xung quanh.

[46] Thạch tàm: Giống vật ở thành đám bám vào đá ở biển (madrépores)

[47] Teniers: (1610-1690): Họa sĩ Hà Lan vẽ những cảnh đời sống nông thôn, chiến tranh, quán rượu, hội hè.

[48] Miéris (1635-1681): Họa sĩ Hà Lan vẽ phong cảnh.

[49] Salvator Rosa (1615-1673): Họa sĩ Ý chuyên vẽ phong cảnh vĩ đại ảm đạm và cảnh sinh hoạt.

[50] Ilinois và Chérokées: Dân tộc da đỏ Ở Bắc Mỹ.

[51] Rebec: Một thứ đàn dân tộc ba dây như nhị, violon.

[52] Những chiếc khiên treo ở cửa đền La Mã biểu dương nhưng chiến thắng.

[53] Jean Goujon: Nhà điêu khắc và kiến trúc Pháp nổi tiếng (thế kỷ XVI).

[54] Poussin (1594-1665): Họa sĩ cổ điển Pháp.

[55] Michel Ange: (1475-1564): Nhà điêu khắc, kiến trúc, họa sĩ, thi sĩ vĩ đại thời Phục hưng Ý.

[56] Claude Lorrain (1600-1682): Họa sĩ vẽ phong cảnh Pháp.

[57] Gérard Dow (1613-1675): Họa sĩ Hà Lan bậc thầy vẽ tĩnh vật và cảnh sinh hoạt.

[58] Rembrandt (1606-1669): Họa sĩ Hà Lan.

[59] Murillo, Velasquez: Hai họa sĩ Tây Ban Nha thế kỷ XVII.

[60] Raphaël (1483-1520): Họa sĩ vĩ đại thời Phục hưng Ý.

[61] Corrège (1494-1534): Họa sĩ Ý.

[62] Cuvier (1769-1832): Nhà tự nhiên học Pháp nổi tiếng về những công trình giải phẫu học so sánh và cổ sinh vật học.

[63] Nguyên văn: Hai pied (60 phân).

[64] Cadmus: Nhân vật thần thoại ném răng con rồng mình giết được xuống đất và từ những răng đó nảy sinh những người cầm vũ khí, họ trở nên dân thành Tebơ (Thèbes) mà Catmuyx sáng lập ra.

[65] Mammouth: Giống voi khổng lồ thời xưa.

[66] Mặc thị lục (Apocalypse): Tập sách cuối của Tân ước nói về tương lai loài người.

Thư Mục Truyện

TRUYỆN MỚI

TRUYỆN ĐỀ CỬ